CHƯƠNG VI
TƯ TƯỞNGHỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC, NHÂN VĂN, VĂN HOÁ
I. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ
MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
1. Quan
niệm về vai trò của đạo đức cách mạng:
Đạo đức là
một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách
mạng Việt Nam,
chúng ta phải đem hết tinh thần và lực lượng ra phấn đấu, phải tu dưỡng, rèn
luyện đạo đức cách mạng.
Hồ Chí Minh
luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng
viên. Đảng phải chăm lo giáo dục đạo đức cho thanh niên, đào tạo họ thành những
người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.
Đạo đức
được xem xét trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn. Vai trò của đạo đức
cách mạng là to lớn, Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền tảng của người cách mạng,
cũng giống như gốc của cây, ngọn nguồn của sông, của suối. Như đối với con
người, sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có
đạo đức cách mạng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng. Bởi lẽ con đường đi
đến độc lập dân tộc và CNXH là con đường dài, đòi hỏi sự phấn đấu không ngừng
của mỗi người, mỗi thế hệ và nhiều thế hệ nối tiếp nhau. Chăm lo cái gốc, cái
nguồn, cái nền tảng ấy là công việc thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, của
mỗi gia đình và mỗi người trong xã hội ta.
Đạo đức là
gốc, là nền tảng vì nó liên quan tới Đảng cầm quyền. Nguy cơ của đảng cầm quyền
đó là sự sai lầm về đường lối, suy thoái về đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng
viên. Đảng cầm quyền lãnh đạo xã hội, nếu cán bộ đảng viên không tu dưỡng đạo
đức thì mặt trái của quyền lực có thể làm tha hoá con người. Vì thế, Hồ Chí
Minh cho rằng “Đảng là đạo đức, là văn minh”.
Vai trò của
đạo đức còn thể hiện là lòng cao thượng của con người. Mỗi người có công việc,
tài năng, vị trí khác nhau… nhưng ai giữ được đạo đức cách mạng thì là người
cao thượng.
- Các thế
hệ người Việt Nam phấn đấu cho độc lập dân tộc đến với Hồ Chí Minh trước hết là
đến với tư tưởng đạo đức của Người. “Sống, chiến đấu, lao động, học tập theo
gương Bác Hồ vĩ đại” là khẩu hiệu chung của người Việt Nam
- Tư tưởng
đạo đức và bản thân đạo đức của Hồ Chí Minh là kết tinh đạo đức của dân tộc,
của nhân loại. Hồ Chí Minh là điểm rực sáng về đạo đức đối với thế giới và đối
với Việt Nam. Bác nói: “Đối với phương Đông một tấm gương sống còn có giá
trị hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền”.
Theo Lênin,
“đạo đức là những gì góp phần phá huỷ xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần
đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo
ra xã hội mới của những người cộng sản.”
Hồ Chí Minh
cho rằng, Đảng “là đạo đức, là văn minh”, thì mới hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ
vang của mình. Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của
dân tộc mình và của thời đại. Trí tuệ là sự hiểu biết đúng đắn về CNMLN, tri
thức hiện đại của nhân loại, thực tiễn Việt Nam và thế giới, những quy luật
phát triển của cách mạng Việt Nam, những hiểu biết để đưa sự nghiệp cách mạng
đến thắng lợi. Đạo đức là những phẩm chất mà con người cần có để tham gia vào
cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và CNXH. Muốn làm cách mạng thì con người
cần có tâm trong sáng, đạo đức cao đẹp đối với giai cấp công nhân, nhân dân lao
động, với cả dân tộc. Cái tâm ấy phải thể hiện trong các mối quan hệ xã hội
hằng ngày với dân, với nước, với đồng chí, đồng nghiệp, với mọi người chung
quanh mình. Phải có tâm, có đức mới giữ được CNMLN và đưa chủ nghĩa MLN vào
trong cuộc sống.
Hồ Chí Minh
cũng quan tâm giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân lao
động. Tuỳ theo từng thời kỳ cách mạng mà Người đề ra những yêu cầu đạo đức sát
hợp để mọi người cùng phấn đấu. Trong cuốn Đường Kách mệnh,
bài đầu tiên nói về tư cách người cách mệnh, Hồ Chí Minh đã nêu một quan điểm
lớn: phải có cái đức để đi đến cái trí, và khi có trí thì cái đức đảm bảo cho
người cách mạng giữ vững được chủ nghĩa mà mình đã giác ngộ, chấp nhận, đi
theo. Có đức nhưng phải có tài, đức và tài quan hệ mật thiết với nhau. Có đức
nhưng phải có tài,hồng và chuyên phải kết hợp, tài càng lớn thì đức càng phải
cao, vì đức – tài nhằm phục vụ nhân dân. Đạo đức là gốc, là vũ khí mạnh mẽ
trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và CNXH.
2. Những phẩm chất
đạo đức cơ bản của con người Việt Nam trong thời đại mới
a.
Trung với nước, hiếu với dân
Trong mối
quan hệ đạo đức thì mối quan hệ giữa mỗi người với đất nước, với nhân dân, với
dân tộc là mối quan hệ lớn nhất. Trung, hiếu là phẩm chất đạo đức quan trọng
nhất, bao trùm nhất.
Trung, hiếu
là những khái niệm đã có trong tư tưởng đạo đức truyền thống Việt Nam và phương
Đông, xong có nội dung hạn hẹp. “Trung với vua, hiếu với cha mẹ”, phản ánh bổn
phận của dân đối với vua, con đối với cha mẹ.
Hồ Chí Minh đã vận dụng và đưa vào nội dung mới. Hồ Chí Minh đã kế thừa những
giá trị đạo đức truyền thống và vượt trội. Trung với nước là trung thành với sự
nghiệp giữ nước và dựng nước. Nước là của dân, còn nhân dân là chủ của đất
nước. “Bao nhiêu quyền hạn đều của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân”. Đây là
chuẩn mực đạo đức có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.
Trung với
nước, hiếu với dân là suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc,
vì CNXH, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào
cũng đánh thắng. Bác vừa kêu gọi hành động vừa định hướng chính trị- đạo đức
cho mỗi người Việt Nam.
Đối với cán bộ đảng viên phải suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng,
đó là điều chủ chốt của đạo đức cách mạng. Phải tuyệt đối trung thàmh với Đảng,
với dân, phải tận trung, tận hiếu, thì mới xứng đáng vừa là đầy tớ trung thành,
vừa là người lãnh đạo của dân; dân là đối tượng để phục vụ hết lòng. Phải nắm
vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí để dân
hiểu được quyền và trách nhiệm của người chủ đất nước.
Nội dung
chủ yếu của trung với nước là:
- Đặt lợi
ích của đảng, của Tổ quốc, của cách mạng lên trên hết.
- Quyết tâm
phấn đấu thực hiện mục tiêu của cách mạng.
- Thực hiện
tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Nội dung
của hiếu với dân là:
- Khẳng
định vai trò sức mạnh thực sự của nhân dân.
- Tin dân,
lắng nghe dân, học dân, tổ chức vận động nhân dân cùng thực hiện tốt đường lối
chính sách của Đảng và Nhà nước.
- Chăm lo
đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
b.
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Cần là lao động cần cù, siêng năng, lao động có kế hoạch,
sáng tạo năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng,
không ỷ lại, không dựa dẫm. Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống,
nguồn hạnh phúc của con người.
Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết
kiệm tiền của của nhân dân, của đất nước, của bản thân mình. Tiết kiệm từ cái
nhỏ đến cái to; “Không xa sỉ, không hoang phí, không bừa bãi,”
Liêm là “luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân;
không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của nhà nước, của nhân dân”. Phải trong
sạch, không tham lam địa vị, tiền của, danh tiếng, sung sướng. Không tâng bốc
mình. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ. Hành vi trái với chữ
liêm là:... cậy quyền thế mà đục khoét, ăn của dân, hoặc trộm của công làm của
riêng. Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là trộm vị. Gặp
việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm là tham uý lạo. Cụ Khổng
nói: người mà không liêm, không bằng súc vật. Cụ Mạnh nói: ai cũng tham lợi thì
nước sẽ nguy.
Chính là không tà, thẳng thắn, đứng đắn. Đối với mình, với
người, với việc.
Đối với
mình, không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn kiểm điểm
mình để phát huy điều hay, sửa đổi điều dở.
Đối với
người, không nịnh hót người trên, xem khinh người dưới; luôn giữ thái độ chân
thành, khiêm tốn, đoàn kết, không dối trá, lừa lọc.
Đối với
việc, để việc công lên trên việc tư, làm việc gì cho đến nơi, đến chốn, không
ngại khó, nguy hiểm, cố gắng làm việc tốt cho dân cho nước.
Cần, kiệm,
liêm, chính cần thiết đối với tất cả mọi người. Hồ Chí Minh viết:
“TrờI có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính
Thiếu một mùa thì không thành trời
Thiếu một phương thì không thành đất
Thiếu một đức thì không thành người”.
Cần, kiệm,
liêm, chính rất cần thiết đối với người cán bộ, đảng viên. Nếu đảng viên mắc
sai lầm thì sẽ ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, nhiệm vụ của cách mạng. Cần,
kiệm, liêm, chính còn là thước đo sự giàu có về vật chất, vững mạnh về tinh
thần, sự văn minh của dân tộc. “Nó” là cái cần để “làm việc, làm người, làm cán
bộ, để phụng sự Đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và
nhân loại”.
Chí công
vô tư, là làm bất cứ việc gì cũng
đừng nghĩ đến mình trước, chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì lợi ích
của cách mạng. Thực hành chí công vô tư là quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng
cao đạo đức cách mạng. “phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ (tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi
lạc). Chủ nghĩa cá nhân chỉ biết đến mình, muốn “mọi người vì mình”. Nó là giặc
nội xâm, còn nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm. Hồ Chí Minh viết: “ Một dân tộc,
một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không
nhất định hôm nay vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không
trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Hồ Chí Minh cũng phân biệt lợi
ích cá nhân và chủ nghĩa cá nhân. Chí công vô tư là tính tốt có thể gồm 5 điều:
nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư là để vững vàng qua mọi thử thách : “Giàu sang không
quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”.
c.
Yêu thương con người
Kế thừa
truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp truyền thống nhân nghĩa với chủ
nghĩa nhân đạo cộng sản, tiếp thu tinh thần nhân văn của nhân loại qua nhiều
thế kỷ, qua hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh đã xác định tình yêu thương con
người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất.
Tình yêu
rộng lớn dành cho những người cùng khổ, những người lao động bị áp bức, bóc
lột. Hồ Chí Minh chỉ ham muốn cho đất nước được hoàn toàn độc lập, dân được tự
do, mọi người ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Chỉ có tình yêu
thương con người bao la đến như vậy mới có cách mạng, mới nói đến CNXH và CNCS.
Nghiêm
khắc với mình, độ lượng với người khác. Phải có tình nhân ái với cả những ai có
sai lầm, đã nhận rõ và cố gắng sửa chữa, đánh thức những gì tốt đẹp trong mỗi
con người. Bác căn dặn Đảng phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, trên
nguyên tắc tự phê bình và phê bình chân thành.
Tình yêu
thương con người còn là tình yêu bạn bè, đồng chí, có thái độ tôn trọng con
người, điều này có ý nghĩa đối với người lãnh đạo.
d.
Tinh thần quốc tế trong sáng, thuỷ chung
Đó là tinh thần quốc tế vô sản, bốn phương vô sản đều là anh em. Đó là
tinh thần đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước.
Đó là tinh thần đoàn kết của nhân dân Việt Nam với tất cả những người tiến bộ
trên thế giới vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội. Sự đoàn kết là nhằm vào
mục tiêu lớn của thời đại hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
3. Những
nguyên tắc xây dựng đạo đức mới
a.
Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức.
Nói và làm
luôn đi đôi với nhau đem lại hiệu quả thiết thực cho chính mình và cho người
khác. Nói mà không làm gọi là đạo đức giả. Từ đó Bác trong giáo dục đạo đức vấn
đề nêu gương được đặt ra. “trước mặt quần chúng không phải ta cứ viết lên trán
chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ yêu mến những người có tư
cách đạo đức.” Chú ý đạo làm gương.
b. Xây đi đôi với chống, phải tạo thành phong trào quần
chúng rộng rãi.
Xây
dựng đạo đức mới là phải giáo dục những phẩm chất, những chuẩn mực đạo đức mới
cho con người Việt nam trong thời đại mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh, từ gia
đình, nhà trường, đến xã hội. Phải khơi dậy ý thức đạo đức lành mạnh ở mọi
người. Bên cạnh đó, phải không ngừng chống lại những cái xấu, cái sai, vô đạo
đức. Để xây và chống có kết quả phải tạo thành phong trào rộng rãi, phải chống
lại chủ nghĩa cá nhân.
Xây dựng
đạo đức mới có nhiều cách làm, nhưng phải có hiệu quả. Ví dụ phong trào “3 xây,
3 chống”.
c. Phải
tu dưỡng đạo đức suốt đời.
Mỗi người
phải thường xuyên chăm lo tu dưỡng đạo đức đó là công việc kiên trì bền bỉ,
không thể chủ quan tự mãn. Mỗi người ai cũng có điều tốt và dở, thiện và ác. Phải
đánh thức những gì tốt đẹp trong mỗi con người. Có “tu thân” mới làm được những
việc lớn khác như “trị quốc bình thiên hạ”. Phải “chính tâm tu thân” để “trị
quốc bình thiên hạ”. Đạo đức cách mạng là nhằm giải phóng và đem lại hạnh phúc,
tự do cho con người. Việc tu dưỡng đạo đức phải thực hiện trong thực tiễn hoạt
động hằng ngày, trong lao động sản xuất, chiến đấu, sinh hoạt,... và thể hiện
trong mối quan hệ hằng ngày. Có như thế việc tu dưỡng mới có kết quả.
II. TƯ TƯỞNG NHÂN
VĂN HỒ CHÍ MINH
1. Con người là
vốn quý nhất- nhân tố quyết định thắng lợi của
a. Nhận thức của
Hồ Chí Minh về con người
Trong quan niệm của
Hồ Chí Minh về con người phải hiểu rõ cả hai phương diện: Tính lịch sử - cụ thể
và tính xã hội.
Hồ Chí Minh thường
nói đến con người trong phạm vi dân tộc: con lạc, cháu hồng; con rồng, cháu
tiên. Hai chữ đồng bào là khái niệm yêu thương con người, giống nòi.
Dưới ánh sáng của
CNMLN và qua hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh nhận thức về con người đã mở rộng
“biên độ”. Con người mà Hồ Chí Minh nói là nhân dân lao động bị áp bức, bị bóc
lột. Hồ Chí Minh sử dụng khái niệm “người bản xứ bị bóc lột”, “người mất nước”,
“người da đen”, “người cùng khổ”, “người vô sản”…Trong quan hệ xã hội Bác chia
làm hai giống người: những người làm điều thiện và những người làm điều ác.
Đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, khi về nước lãnh đạo nhân dân đấu
tranh giành chính quyền cách mạng, Hồ Chí Minh lại dùng khái niệm “đồng bào”,
“quốc dân”… Khi miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Người dùng thêm nhiều khái
niệm như “công nhân”, “nông dân”, “lao động trí óc”, “người chủ xã hội”…
Hồ Chí Minh đề cập
đến con người theo phạm vi và nhiều nghĩa rộng, hẹp khác nhau. Nghĩa hẹp, con
người chỉ phạm vi gia đình, anh em, họ hàng, bạn bè. Nghĩa rộng, trong phạm vi
quốc gia là đồng bào cả nước. Nghĩa rộng hơn, trong phạm vi quốc tế là nhân
loại. Hồ Chí Minh đặt con người trong quan hệ gắn bó với khối thống nhất của
cộng đồng dân tộc, nhưng không phải là một khối đồng nhất mà bao gồm nhiều dân
tộc, nhiều giai cấp, nhiều tầng lớp, có lợi ích riêng và chung, có thái độ và
vai trò khác nhau đối với sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh bàn
đến “con người” theo nghĩa chung là “phẩm giá con người”, “giải phóng con
người”. Nói đến con người, Hồ Chí Minh xem xét trong các mối quan hệ xã hội,
quan hệ giai cấp; theo giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp; trong khối thống nhất
của cộng đồng dân tộc và quan hệ quốc tế, quan điểm của Người thống nhất lập
trường giai cấp, lập trường dân tộc. Hồ Chí Minh đề cập đến con người trước hết
là nói đến dân, tuyệt đại đa số nhân dân bao gồm công nhân, nông dân, trí thức,
vừa là lực lượng đông đảo trực tiếp tham gia lao động sản xuất, vừa là lực
lượng có tinh thần, tiềm lực cách mạng to lớn nhất.
b. Thương yêu, quý
trọng con người.
Hồ Chí Minh có tình
yêu thương vô hạn đối với con người. Thương nước, thương dân, thương nhân loại
bị áp bức và Bác ham muốn tột bậc là “nước ta được độc lập, dân ta được tự do,
đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.
Tình thương yêu của
Bác luôn đứng trên lập trường của giai cấp vô sản, nhận thức và hành động theo
nguyên tắc của CNMLN, đồng cảm với các dân tộc bị áp bức. Hồ Chí Minh có khát
vọng giải phóng không chỉ riêng cho dân tộc mình mà cho các dân tộc bị áp bức
trên thế giới.
Hồ Chí Minh yêu
thương con người, quí trọng con người, kính trọng nhân dân, chăm lo cho dân.
Con người là vốn quí nhất, quí trọng sinh mạng của dân, trong đấu tranh cố gắng
ít hy sinh tính mạng. Quý dân, tiết kiệm sức dân, tôn trọng đức và tài của dân,
lắng nghe ý kiến của dân. Chăm lo đời sống của dân: “việc gì có lợi cho dân thì
hết sức làm dù nhỏ mấy. Việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh.” Mọi chủ
trương chính sách pháp luật phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng
của dân.
c. Tin vào sức
mạnh, phẩm giá và tính sáng tạo của con người.
Hồ Chí Minh yêu dân
còn thể hiện ở niềm tin vào dân “đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông
dương dấu cái gì đang sục sôi, đang gào thét và sẽ bùng nổ khi thời cơ đến”.
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, phải tin dân, dựa vào dân. Hồ
Chí Minh có niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh và tính sáng tạo của quần chúng
nhân dân. Đã là người cộng sản thì phải tin dân và niềm tin sẽ tạo nên sức mạnh
cho người cộng sản. Tình yêu thương vĩ đại của Hồ Chí Minh còn thể hiện ở chỗ
suốt đời
Tin dân còn được nhận
thức từ mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Chính phủ. Nếu không có dân thì
Chính phủ không đủ lực lượng; nếu không có Chính phủ thì nhân dân không có ai
dẫn đường.
Tin dân ở Hồ Chí Minh
còn xuất phát từ niềm tin vào tình người. Con người phải vươn tới chân - thiện
- mỹ, con người có tốt, có xấu nhưng dù tốt, xấu đều có tình. Giữ vững niềm tin
vào dân thì phải chống các bệnh “xa nhân dân, khinh nhân dân, sợ nhân dân;
không tin cậy nhân dân; không hiểu biết nhân dân; không yêu thương nhân dân”.
Bệnh này sẽ dẫn đến “hỏng việc”.
d. Lòng khoan dung
rộng lớn.
Đoàn kết lâu dài và
rộng rãi các lực lượng là thể hiện lòng nhân ái bao dung cao cả.
Vì sự nghiệp giải
phóng dân tộc, ứng xử có lý có tình với kiều dân nước ngoài, bảo vệ tính mạng
và tài sản của họ.
Lòng nhân ái bao la
còn thể hiện ở nguyên tắc đánh kẻ chạy đi, không đánh người quay lại. Hồ Chí
Minh có chính sách khoan hồng đại lượng, đối xử nhân đạo với tù binh.
Cán bộ, đảng viên có
lỗi, chú ý giáo dục nhiều hơn so với xử phạt.
Trân trọng ý kiến
khác nhau, kể cả ý kiến trái với mình.
2. Con người vừa
là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng
a. Con người là
mục tiêu giải phóng của sự nghiệp cách mạng
Mục tiêu của cách
mạng là giải phóng con người, mang lại tự do, hạnh phúc cho con người; nhưng sự
nghiệp giải phóng là do chính con người thực hiện. Với tư cách là mục tiêu của
cách mạng, mọi chủ trương đường lối, chính sách của Đảng phải vì dân, vì lợi
ích của dân. Bao nhiêu lợi ích cũng vì dân. Dân trước hết là giai cấp công
nhân, liên minh với nông dân, trí thức cũng là một tầng lớp cần coi trọng.
b. Con người là
động lực của cách mạng
Với tư cách là động
lực của cách mạng, cần phải tổ chức và thức tỉnh hàng chục triệu nông dân, phải
thức tỉnh và tổ chức toàn thể giai cấp công nhân. Có như vậy mới tạo ra sức
mạnh to lớn để có thể làm cách mạng thành công. Họ phải có trí tuệ, bản lĩnh,
văn hoá, đạo đức, được nuôi dưỡng trên nền truyền thống lịch sử và văn hoá hàng
ngàn năm của dân tộc. Lịch sử đã chứng minh, quần chúng nhân dân là lực lượng
sáng tạo cơ bản, có dân là có tất cả. Xuất phát từ sự đánh giá đúng con người
và hiểu biết con người, con người là động lực chỉ có thể thực hiện được khi
hoạt động có tổ chức, có lãnh đạo. Đảng cách mạng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm
nền tảng tư tưởng, qua phong trào cách mạng của quần chúng, Đảng sẽ nhân sức
mạnh của con người lên gấp bội lần.
3. Xây dựng con
người là chiến lược hàng đầu của cách mạng
Hồ Chí Minh có quan
điểm coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực. Con người có ý nghĩa chiến
lược của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam.
Muốn xây dựng
CNXH, trước hết cần có con người XHCN.
Con người có hai mặt gắn bó nhau: một là, kế thừa giá trị tốt đẹp của con người
truyền thống, hai là, hình thành những phẩm chất mới như: tư tưởng XHCN, đạo
đức cách mạng, có trí tuệ, bản lĩnh để làm chủ, có lòng nhân ái, vị tha, độ
lượng.
Hồ Chí Minh quan
niệm: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải
trồng người”. Con người trong thời đại mới phải có học thức, chiếm lĩnh đỉnh
cao của KHKT. Vì vậy CNXH mới đủ tiềm lực vật chất để chiến thắng CNTB, mới làm
cách mạng thắng lợi.
Xây dựng con người
mới phải toàn diện: có mục đích và lối sống cao đẹp, có bản lĩnh chính trị vững
vàng, có chính kiến. Xây dựng con người có ý thức làm chủ, tự lực, tự cường,
gắn quyền lợi và nghĩa vụ. Luôn phấn đấu cho độc lập dân tộc và CNXH. Con người
có niềm tin và lạc quan cách mạng. Con người có trí tuệ, trình độ học vấn cao,
ngày càng tiến bộ. Con người có sức khoẻ. Con người có lòng khoan dung, độ
lượng. Để “trồng người”, xây dựng con người vừa có cá tính vừa có thể phát
triển mọi mặt phải có nhiều biện pháp. Theo Hồ Chí Minh, giáo dục là biện pháp
quan trọng nhất. Cần hiểu mối quan hệ giữa “tính người” và giáo dục.
Tính người vốn thiện
và ác, và đây là phạm trù được Nho giáo quan tâm. Hồ Chí Minh cho rằng “tính
người” do giáo dục và nó gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người.
“Ngủ thì ai cũng như lương thiện,
Tỉnh dậy phân ra kẻ giữ, hiền.
Hiền, dữ đâu phải là tính sẵn,
Phần nhiều do giáo dục mà nên.”
“Óc của trẻ trong
sạch như tấm lụa trắng. Nhuộm xanh thì nó sẽ xanh. Nhuộm đỏ thì nó sẽ đỏ. Vì
vậy sự học tập ở trong trường có ảnh hưởng rất lớn cho tương lai của thanh
niên”. Nghị quyết Trung ương II, khoá VIII (1996) có nêu định hướng chiến lược
phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và
nhiệm vụ đến năm 2000 và 2020. Cần phải đưa nghị quyết đi vào cuộc sống.
Nội dung và phương
pháp giáo dục phải toàn diện, cả đức, thể, trí, mỹ, phải đặt đạo đức, lý tưởng
và tình cảm cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa lên hàng đầu. Đức và tài thống
nhất nhau, trong đó đức là gốc, là nền tảng phát triển, “Học để làm người”.
Hồ Chí Minh coi trọng
việc nâng cao dân trí cho toàn dân tộc. Người hướng mọi hoạt động văn hoá, giáo
dục, tư tưởng vào việc rèn luyện dân tộc ta thành dân tộc cách mạng và văn
minh. Hồ Chí Minh nêu khẩu hiệu : Diệt giặc đói, diệt giặc dốt”. Bác đi đầu
trong việc khai dân trí. Mở các lớp xoá mù chữ, các lớp bình dân học vụ. Người
nói: “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”.
III. TƯ TƯỞNG HỒ
CHÍ MINH VỀ VĂN HOÁ
1. Những quan điểm
chung của Hồ Chí Minh về văn hoá
“Vì lẽ sinh
tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra
ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ
thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức
sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là tổng
hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã
sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.
a. Quan niệm về vị
trí, vai trò của văn hoá: Văn hoá là bộ phận của kiến trúc thượng tầng, là
đời sống tinh thần của xã hội. Chính trị, xã hội được giải phóng thì văn hoá
mới được giải phóng. Chính trị giải phóng mở đường cho văn hoá phát triển. Hồ
Chí Minh đã vạch ra đường lối: Phải tiến hành cách mạng chính trị trước, cụ thể
là cách mạng giải phóng dân tộc để giành chính quyền, từ đó giải phóng văn hoá,
mở đường cho văn hoá phát triển. “Xã hội thế nào thì văn hoá thế ấy. Văn nghệ
của ta rất phong phú, nhưng dưới chế độ thực dân và phong kiến nhân dân ta bị
nô lệ, thì văn nghệ cũng bị nô lệ, bị tồi tàn, không thể phát triển được”.
Người dự định xây dựng văn hoá với 5 nội dung lớn:
(1) Xây dựng
tâm lý: tinh thần độc lập tự cường.
(2) Xây dựng
luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng.
(3) Xây dựng xã
hội: mọi sự nghiệp liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội.
(4) Xây dựng
chính trị: dân quyền.
(5) Xây dựng
kinh tế”.
Văn hoá là một
kiến trúc thượng tầng nhưng không thể đứng ngoài, mà nó phải ở trong kinh tế và
chính trị. Văn hoá phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng và phát
triển kinh tế. Tuy “kinh tế có kiến thiết rồi, văn hoá mới kiến thiết được”,
nhưng văn hoá phát triển không thụ động, văn hoá có tính tích cực chủ động, nó
đóng vai trò to lớn thúc đẩy kinh tế và chính trị phát triển như một động lực.
“Văn hoá ở trong chính trị” tức là văn hoá phải tham gia nhiệm vụ chính trị,
tham gia cách mạng, kháng chiến và xây dựng CNXH. “Vănhoá ở trong kinh tế” tức
là văn hoá phải phục vụ, thúc đẩy xây dựng và phát triển kinh tế. “Văn hoá ở
trong kinh tế và chính trị” cũng có nghĩa là chính trị và kinh tế phải có tính
văn hoá.
Văn hoá có quan hệ
mật thiết với kinh tế, chính trị, xã hội, tạo thành bốn vấn đề chủ yếu của đời
sống xã hội và phải nhận thức như sau:
- Văn hoá quan trọng
ngang kinh tế, chính trị, xã hội.
- Chính trị, xã hội
có được giải phóng thì văn hoá mới được giải phóng. Chính trị giải phóng mở
đường cho văn hoá phát triển.
- Xây dựng kinh tế để
tạo điều kiện cho việc xây dựng và phát triển văn hoá.
- Văn hoá là kiến
trúc thượng tầng, nó phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng và phát
triển kinh tế.
Trong kháng chiến,
Người định hướng hoạt động văn hoá, thực hiện khẩu hiệu: “văn hoá hoá kháng
chiến, kháng chiến hoá văn hoá”, những người hoạt động văn hoá cũng là chiến sĩ
trên mặt trận văn hoá.
b. Quan điểm về
tính chất của nền văn hoá mới
Trong thời kỳ cách
mạng dân tộc dân chủ, nền văn hoá thể hiện:
- Tính dân tộc, đặc
tính dân tộc hay cốt cách dân tộc là cái tinh tuý, đặc trưng riêng của văn hoá
dân tộc. Cốt cách văn hoá dân tộc không phải “nhất thành bất biến”, mà có phát
triển và bổ sung nét mới.
- Tính khoa học của
nền văn hoá thuận với trào lưu tiến hoá của tư tưởng hiện đại: hoà bình, độc
lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Những người làm văn hoá phải có trí
tuệ, hiểu biết khoa học tiên tiến, phải có chiến lược xây dựng văn hoá mang tầm
thời đại.
- Tính đại chúng của
nền văn hoá là phục vụ nhân dân, phù hợp nguyện vọng của nhân dân, đậm đà tính
nhân văn.
Trong cách mạng xã
hội chủ nghĩa, nền văn hoá thể hiện:
- Nội dung xã hội chủ
nghĩa: tiên tiến, tiến bộ, khoa học, hiện đại, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân
loại.
- Tính dân tộc của
nền văn hoá là giữ gìn, kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp
của dân tộc, phù hợp với điều kiện lịch sử mới.
c. Quan điểm về
chức năng của văn hoá
- Một là, bồi
dưỡng tư tưởng đạo đức đúng đắn và tình cảm cao đẹp cho con người. Người thường
xuyên quan tâm đến bồi dưỡng lý tưởng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp
nhân dân. Đó là chức năng cao quý của văn hoá. Hồ Chí Minh nói phải làm cho văn
hoá soi đường cho quốc dân đi, đi sâu vào tâm lý quốc dân, để xây dựng tình cảm
lớn cho con người.
- Hai là, nâng
cao dân trí, “mọi người phải hiểu biết quyền lợi của mình... phải có kiến thức
mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết
đọc, biết viết chữ quốc ngữ” Khi miền Bắc quá độ lên CNXH, Người nói “chúng ta
phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hoá cao và đời sống vui
tươi hạnh phúc.”
- Ba là, bồi
dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, những phong cách lành mạnh, luôn hướng con người
vươn tới chân- thiện- mỹ để không ngừng hoàn thiện bản thân mình.
2. Tư tưởng Hồ Chí
Minh về một số lĩnh vực chính của văn hoá
a) Văn hoá giáo
dục:Trong nền giáo dục phong kiến,
kinh viện xa
Nền giáo dục của nước
Việt Nam sau khi được độc lập là nền giáo dục mới.
- Mục tiêu của văn
hoá giáo dục là thực hiện cả ba chức năng của văn
- Cải cách giáo dục
là xây dựng hệ thống trường, lớp với chương trình và nội dung dạy học thật khoa
học, hợp lý, phù hợp với bước phát triển của ta. Học chính trị, khoa học - kỹ
thuật, chuyên môn nghiệp vụ, lao động…
- Phương châm, phương
pháp giáo dục:
Phải luôn gắn giáo
dục với thực tiễn Việt Nam, học đi đôi với hành, học kết hợp với lao động sản
xuất. Giáo dục phải có tính định hướng đúng đắn, rõ ràng, thiết thực, phối hợp
nhà trường với gia đình – xã hội, thực hiện bình đẳng dân chủ trong giáo dục.
Học ở mọi nơi, mọi
lúc, học mọi người; học suốt đời; coi trọng việc tự học, tự đào tạo và đào tạo
lại. “học không biết chán, học không bao giờ đủ, còn sống còn phải học”.
Phương pháp giáo dục
phải bám chắc vào mục tiêu giáo dục.
- Quan tâm xây dựng
đội ngũ giáo viên có phẩm chất, yêu nghề; phải có đạo đức cách mạng, phải yên
tâm công tác, đoàn kết; phải giỏi chuyên môn, thuần thục phương pháp.
b) Văn hoá văn
nghệ:
- Văn nghệ là một
mặt trận, văn nghệ sĩ là chiến sĩ, tác phẩm văn nghệ là vũ khí sắc bén
trong đấu tranh cách mạng, trong xây dựng xã hội mới, con người mới.
Văn nghệ là mặt trận
“ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính,
trừ tà”.
Văn nghệ sĩ là chiến
sĩ “Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức
là phụng sự tổ quốc, phụng sự kháng chiến, phụng sự nhân dân, trước hết là
công, nông, binh. Để làm tròn nhiệm vụ, chiến sĩ nghệ thuật cần có lập trường
vững vàng, tư tưởng đúng... đặt lợi ích của kháng chiến, của Tổ quốc, của nhân
dân lên trên hết”. Họ phải nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, nghiệp vụ, đặc
biệt phải có phẩm chất, bản lĩnh, tài năng để sáng tạo ra những sản phẩm tinh
thần phục vụ cuộc sống, phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn.
- Văn nghệ phải
gắn với thực tiễn của đời sống nhân dân. “Thật là một thế giới thần tiên.
Nhưng tôi nhớ mường tượng như Lỗ Tấn, nhà đại văn hào của cách mạng Trung Hoa
đã nói một câu đại ý như thế này: Người trần lên tiên có lẽ cũng thích thật.
Nhưng nhìn mãi cái đẹp không thay đổi rồi cũng thấy chán, thấy nhạt nhẽo và mới
biết rằng muốn tìm thấy sự thay đổi, sự ham mê thật thì phải trở về với cuộc
sinh hoạt thực tại của con người.” Thực tại đem lại nguồn sinh khí vô tận cho văn
nghệ. Chiến sĩ văn nghệ phải thật hoà mình với quần chúng và không được quên
rằng “...chỉ có nhân dân mới nuôi dưỡng cho sáng tác của nhà văn bằng những
nguồn nhựa sống. Còn nếu nhà văn quên điều đó – thì nhân dân cũng sẽ quên anh
ta.” Thực tiễn không chỉ là nguồn nuôi dưỡng những sáng tác, mà còn là những
tinh hoa trong sáng tác dân gian đã được chắt lọc từ thế hệ này qua thế hệ
khác. Nhân dân cũng sáng tác văn hoá văn nghệ và hưởng thụ văn nghệ, chúng ta
thường gọi là sáng tác dân gian. Những sáng tác ấy là “những hòn ngọc quý”.
- Phải có những
tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại mới của đất nước và của dân tộc.Phải phán ánh cho hay, cho chân thật sự nghiệp cách
mạng của nhân dân. “Quần chúng mong muốn những tác phẩm có nội dung chân thật
và phong phú, có hình thức trong sáng và vui tươi. Khi chưa xem thì muốn xem,
xem rồi thì bổ ích”. “Cần làm cho món ăn tinh thần được phong phú, không nên
bắt mọi người chỉ được ăn một món thôi. Cũng
c) Văn hoá đời
sống
Quan điểm xây dựng
đời sống mới thực sự là quan điểm độc đáo của Hồ Chí Minh về văn hoá. Khái niệm
đời sống mới bao gồm cả đạo đức mới, lối sống mới và nếp sống mới, ba nội
dung ấy có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đạo đức đóng vai trò chủ yếu.
- Đạo đức mới. Theo
Hồ Chí Minh là thực hành đời sống mới trước hết là thực hành đạo đức cách mạng
cần, kiệm, liêm chính.
- Lối sống mới. Đó là
lối sống có lý tưởng có đạo đức,văn minh, tiên tiến, kết hợp hài hoà truyền
thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hoá của nhân loại. Cần phải “sửa đổi
những việc rất cần thiết, rất phổ thông, trong đời sống của mọi người, tức là
sửa đổi cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc”. Năm cách phải
sửa đổi... có nghĩa là nói về mặt văn hoá của ăn, mặc, ở,... Mặt văn hoá của
ăn, mặc, ở, ... phụ thuộc vào lối sống có văn hoá hay không có văn hoá của con
người.
- Nếp sống mới. Quá
trình xây dựng lối sống mới làm cho nó dần dần trở thành thói quen ở mỗi người,
thành phong tục tập quán của cả cộng đồng trong phạm vi địa phương hay cả nước
gọi là nếp sống mới. Nếp sống mới phải kế thừa những truyền thống tốt đẹp,
những thuần phong mỹ tục lâu đời của nhân dân ta. Cái gì cũ mà xấu thì bỏ. Cái
gì cũ mà không xấu thì phải sửa đổi cho hợp lý. Cái gì cũ mà tốt thì phát triển
thêm. Cái gì mới mà hay thì phải làm.
IV. VẬN DỤNG TƯ
TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC, NHÂN VĂN, VĂN HOÁ VÀO VIỆC XÂY DỰNG CON NGƯỜI
VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Học tập tư
tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, lối sống.
Bồi dưỡng thế giới
quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nêu cao tinh thần yêu
nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên trong lao động, học tập, bảo vệ
Tổ quốc XHCN
Biết giữ gìn đạo đức,
nhân phẩm, lương tâm, danh dự.
2. Học tập và vận
dụng tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh
Xây dựng một xã hội
nhân văn theo quan điểm Hồ Chí Minh phải bảo đảm công bằng xã hội, quan tâm đến
lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội. Xét đến cùng là phấn đấu cho độc lập ,tự
do, hạnh phúc, công bằng, dân chủ của con người. Tất cả vì con người và do con
người. Bồi dưỡng tinh thần nhân ái, khoan dung góp phần hoàn thiện nhân cách
con người mới.
3. Vận dụng và
phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá: Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc là xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới như sau:
- Có tinh thần yêu
nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
- Có ý thức tập thể,
đoàn kết phấn đấu vì lợi ích chung.
- Có lối sống lành
mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương,
qui ước của cộng đồng.
- Lao động chăm chỉ
có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao.